Các quy trình nuôi tôm công nghệ cao tiên tiến nhất hiện nay

Công nghệ nuôi tôm liên tục được cải tiến và hoàn thiện. Ngoài công nghệ nuôi tôm mật độ cao, siêu thâm canh, một số công nghệ nuôi tôm mới dựa trên nguồn thức ăn tự nhiên hoặc sử dụng hoàn toàn thức ăn thực vật hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Bài viết này nêu ra một số thông số kỹ thuật cơ bản của công nghệ nuôi tôm tiên tiến nhất hiện nay, mời các bạn tham khảo!

Công nghệ copefloc – nuôi tôm công nghệ cao sử dụng thức ăn tự nhiên

Copefloc là một thuật ngữ dùng để mô tả một công nghệ nuôi tôm mới đang bùng nổ ở Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác. Copefloc = Copepods + Biofloc; đây là công nghệ nuôi tôm sử dụng động vật chân chèo (loài giáp xác), các hạt biofloc và cá thể thân mềm sống dưới đáy làm nguồn thức ăn chính cho tôm nuôi. Không bao giờ sử dụng thức ăn chế biến sẵn (thức ăn viên công nghiệp).

Hệ thống nuôi tôm công nghệ copefloc có nhiều ưu điểm như: thiết kế và vận hành đơn giản, ít rủi ro, chi phí nuôi thấp do không tốn thức ăn nuôi tôm, tôm tăng trưởng rất nhanh, lợi nhuận cao, không gây ô nhiễm môi trường.

Một số đặc điểm nổi bật của hệ thống này là:

+ Ao không cần lót bạt, không cần ống thoát trung tâm để hút đáy, hoàn toàn khép kín và không thay nước

+ Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để diệt khuẩn, không cần xử lý nước và bổ sung kháng sinh, khoáng chất

+ Không cần chăm sóc tôm 30 ngày trước khi thả vào ao nuôi, sử dụng thức ăn hoàn toàn từ tự nhiên.

Sau khi lấy nước từ bao lắng sang ao nuôi (nước được xử lý và lọc lâu ngày trong ao lắng) cho đến độ sâu 1,2-1,5m, trong quá trình nuôi cấy copepods, động vật phù du, giáp xác nhỏ khác (Krill)  và động vật thân mềm (barnacle, giun nhiều tơ và các động vật thân mềm khác) được lên men bằng cám gạo và men vi sinh. Tuyệt đối không các nguồn sinh vật khác vào ao nuôi từ bên ngoài để tránh chúng mang mầm bệnh vào ao nuôi.Tất cả thức ăn tự nhiên trong hệ thống nuôi sẽ tự sinh trưởng trong điều kiện thích hợp.

Cho cám gạo vào thau (bể) lớn, thêm men vi sinh vào nước ao nuôi, tiến hành sục khí mạnh trong 24-48 giờ để vi sinh lên men. Sau đó cho hỗn hợp cám gạo đã lên men vào túi vải dài (dạng ống bơm nước), chuyển xuống ao và xoay túi vải thường xuyên để rải đều dung dịch cám gạo đã lên men có chứa men vi sinh khắp ao. Trước khi thả tôm, sục khí liên tục trong ao 7-10 ngày. Cám gạo lên men ban đầu được sử dụng với liều lượng khoảng 300kg hoặc 30 ppm / ha để tạo thức ăn tự nhiên trong ao.

Cám gạo lên men sẽ trở thành nguồn thức ăn cho copepod, động vật thân mềm và các sinh vật khác trong ao. Có khuyến cáo ​​cho rằng mật độ tôm nuôi trong mô hình này nên dưới 50 con / m2. Ở mật độ nuôi này, tôm có thể phát triển tốt, hạn chế cạnh tranh thức ăn tự nhiên. Việc thả với mật độ cao hơn có thể dẫn đến cạnh tranh thức ăn, dẫn đến thiếu thức ăn, biến động chất lượng nước ao và lượng lớn chất thải (phân tôm), có thể dẫn đến hình thành khí độc và tác nhân gây bệnh.

Nuôi tôm công nghệ cao bằng thức ăn có nguồn gốc từ thực vật lên men

nuôi tôm công nghệ cao

Đây là quy trình nuôi tôm theo công nghệ copefloc, nhưng trong quá trình nuôi được bổ sung thức ăn lên men hoặc thức ăn chế biến (thức ăn công nghiệp) có nguồn gốc thực vật. Ưu điểm của công nghệ chăn nuôi này là sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi hoặc thức ăn lên men có nguồn gốc thực vật như cám gạo hoặc đậu nành lên men với chế . Kết hợp với thức ăn công nghiệp giúp giảm chi phí sản xuất (giảm giá thành thức ăn), tôm tăng trọng nhanh hơn, mật độ nuôi cao hơn so với mô hình copefloc.

Trong mô hình này, diện tích ao thường rất lớn, từ 0,5 – 1 ha / ao. Mật độ thả từ 30 – 100 con/m2. Sau khi ao được cải tạo đạt yêu cầu kỹ thuật, sử dụng 400-500 kg (50 ppm) cám gạo nghiền mịn sau 24-48 giờ bổ sung vào ao nuôi theo công nghệ copefloc, sục khí liên tục giúp kích thích sự phát triển của động vật phù du và động vật dưới đáy ao, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm. Tiếp tục bổ sung cám gạo lên men hàng ngày với liều lượng 30-50 kg / ha cho đến khi độ trong đạt 30-50 cm. Tiếp tục sục khí và giữ hàm lượng oxy hòa tan> 5 ppm, và giá trị pH từ 7,5-8,0 cho đến khi thả giống.

Tiếp tục bổ sung cám gạo đã ủ men với liều lượng như trên hàng ngày trong toàn bộ quá trình nuôi. Sau khi thả giống khoảng 5 ngày, đậu nành lên men được bổ sung với liều lượng 1-3 kg / 100.000 tôm post. Mỗi ngày cho tôm ăn 3 lần đậu nành lên men tùy theo trọng lượng tôm (1-5% tùy trọng lượng tôm), kết hợp bổ sung cám gạo ủ men trong suốt quá trình nuôi. Theo mật độ và nhu cầu của tôm, có thể bổ sung thức ăn công nghiệp 1-2 lần / ngày. Nếu bổ sung thức ăn công nghiệp, giảm số lần cho tôm ăn đậu nành lên men và liều lượng cám gạo lên men hàng ngày.

Nuôi tôm công nghệ cao với quy trình 3 pha (three-phase)

Hệ thống nuôi tôm ba pha được phát triển bởi doanh nghiệp Grupo Granjas Marinas ở Honduras. Điểm nổi bật của quy trình công nghệ này là hệ thống ương nuôi luân trùng (rotifer) và giáp xác chân chèo quy mô lớn, kết hợp với ao ương tôm và ao nuôi thương phẩm giúp rút ngắn chu kỳ nuôi. Tăng năng suất tôm mà không cần phụ thuộc vào các nguồn đạm đến từ thức ăn nhân tạo. 

Quy trình nuôi tôm ba pha bao gồm: ao ương tôm trung tâm, luân trùng và hệ thống nuôi rotifer và copepod, tôm sau khi nuôi sẽ được chuyển sang ao nuôi thương phẩm diện tích lớn. Hệ thống có thể hình thành tôm 15-16g / con trong 8 tuần, với tốc độ tăng trưởng hàng tuần là 4,2 g / con và tỷ lệ sống trung bình là 74%. 

Hệ thống chăn nuôi nhiều pha này không chỉ nâng cao hiệu quả phát triển sản lượng mà còn mở ra cơ hội mới trong việc sử dụng thức ăn tự nhiên góp phần bảo vệ môi trường. Một lượng lớn sinh khối thực vật phù du giàu dinh dưỡng có thể được sản xuất trong thời gian ngắn, có thể được sử dụng thay thế thức ăn nhân tạo cho tôm, giúp cải thiện tính bền vững và lợi nhuận cho người nuôi tôm.

Công nghệ raceway – siêu thâm canh nhiều tầng (super-intensive stacked raceway)

nuôi tôm công nghệ cao

Đối với công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong hệ thống raceway truyền thống, tôm được nuôi trong các bể nước hình chữ nhật, các bể nước được bố trí cạnh nhau và bố trí trong một phòng lớn. Nhược điểm của hệ thống này là cần mặt bằng rất rộng để có thể sản xuất được lượng tôm lớn, giá thành sản phẩm cao hơn so với tôm nhập khẩu.

Để khắc phục những thiếu sót của hệ thống raceway truyền thống, Tiến sĩ Addison L. Lawrence, một nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Texas AgriLife, đã đề xuất ý tưởng tuyệt vời về việc xếp chồng các raceway lại với nhau. Hệ thống này được gọi là nuôi tôm raceway siêu thâm canh nhiều tầng (super-intensive stacked raceway).

Hiện tại, công ty sản xuất thủy sản Royal Caridea mới thành lập đã mua bản quyền hệ thống trên toàn thế giới, năm 2012 bắt đầu xây dựng các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ nuôi trồng. Tiến sĩ Lawrence dự đoán trong tương lai gần, mọi khu vực đô thị lớn đều “sẽ có một trang trại nuôi tôm tương tự như mô hình này”, và sẽ không còn quá nhiều lý do để phụ thuộc vào tôm nhập khẩu.

Công nghệ semi-biofloc trong nuôi tôm thâm canh

Các hệ thống nuôi tôm khi lượng thay nước lớn thường có thể duy trì chất lượng nước tốt, tuy nhiên do vấn đề an toàn sinh học và môi trường nên người nuôi chú trọng hơn đến việc áp dụng các kỹ thuật nuôi tôm không thay nước, chẳng hạn như semi-biofloc. Để áp dụng tốt công nghệ semi-biofloc, người nuôi cần đáp ứng đồng thời nhiều yếu tố như tôm mật độ cao, hệ thống sục khí, đảo ngược thích hợp, đủ công suất (25-30 mã lực / ha), điều chỉnh tỷ lệ C: N phù hợp (> 15), hệ thống kiểm soát ao nuôi đúng và chặt chẽ.

Do những khó khăn trên, nhiều người nuôi tôm ở Indonesia đã chuyển sang kỹ thuật nuôi đơn giản hơn gọi là biofloc, gọi là semi-biofloc hay gọi là hệ thống lai giữa các sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng.

Ưu điểm của hệ thống này là tạo ra môi trường cân bằng, khoảng 30 – 40% sinh vật tự dưỡng chủ yếu là tảo Chlorella và 60 – 70% sinh vật dị dưỡng chủ yếu là chủng Bacillus. Thông qua việc áp dụng thường xuyên các chế phẩm sinh học, CaCO3, MgCO3 và các chất hữu cơ, từ đó sinh khối floc sẽ được kiểm soát. Bằng cách điều chỉnh và duy trì tỷ lệ N: P = 25: 1, điều chỉnh quần thể vi sinh dị dưỡng để kiểm soát mật độ tảo. 

Bằng cách bổ sung men vi sinh (Bacillus) và nguồn carbohydrate. Cải tạo ao 20 ngày trước khi thả giống để ổn định hệ sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng (tảo và vi khuẩn có ích). Các yếu tố chất lượng nước cần xem xét bao gồm màu nước, độ pH, độ kiềm, thành phần tảo và vi khuẩn trong ao. Hệ thống sục khí hiệu quả đảm bảo duy trì hàm lượng oxy hòa tan trên 4 ppm và đáy bể thường xuyên được xi phông để loại bỏ chất thải. Giữ độ trong suốt ở mức 25-30 cm

Ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi tôm thâm canh 

nuôi tôm công nghệ cao

Công nghệ biofloc do Giáo sư Yoram Avnimelech đến từ Israel khởi xướng và lần đầu tiên được Robins McIntosh thực hiện trong nuôi tôm thương phẩm ở Belize, Indonesia.

Hệ thống biofloc được phát triển nâng cao để tăng cường kiểm soát môi trường trong nuôi trồng thủy sản, vì thế việc nuôi tôm mật độ cao cần có hệ thống xử lý chất thải để xử lý. Hệ thống biofloc cho phép chất thải hữu cơ và quần thể vi sinh vật tồn tại trong ao. Xáo trộn nước và sục khí được sử dụng để duy trì sự hiện diện của các hạt  floc, từ đó đảm bảo chất lượng nước. Công nghệ BFT là giải pháp cho hai vấn đề:

+ Chuyển hóa chất dinh dưỡng chuyển hóa thành sinh khối vi khuẩn dị dưỡng để xử lý nước ao nuôi.

+ Sử dụng Biofloc làm thức ăn bổ sung tại chỗ cho việc nuôi tôm. Do đó, BFT giảm chi phí thức ăn và được coi là giải pháp cho sự phát triển bền vững của nuôi tôm ở quy mô lớn.

Nhu cầu năng lượng điện của quá trình sục khí và đảo ngược hệ thống biofloc vượt xa nhu cầu năng lượng điện của các hệ thống truyền thống và hầu hết các hệ thống nuôi tuần hoàn. Hệ thống ao nuôi tôm sử dụng công nghệ biofloc cần sục khí với công suất xấp xỉ 25-30 mã lực / ha. Tốc độ sục khí cao như vậy không thể áp dụng cho ao đất không bạt vì sẽ gây xói mòn đất, vì vậy hầu hết các ao theo công nghệ biofloc đều có đáy trải bạt hoặc bê tông. Không nên sử dụng công nghệ biofloc ở những vùng nông nghiệp có nguồn điện không ổn định và giá điện cao.

Trong các hệ thống floc sinh học, yếu tố quan trọng để kiểm soát amoniac là tỷ lệ C: N được bổ sung bởi thức ăn hoặc các nguồn khác. Thức ăn có hàm lượng protein khoảng 30-35% có tỷ lệ C: N tương ứng thấp hơn, chỉ khoảng 9 – 10:1. Tăng tỷ lệ C: N lên khoảng 12-15: 1 để kiểm soát nồng độ ammonia bởi vi sinh vật dị dưỡng.

Tỷ lệ C: N thấp có thể được kiểm soát bằng cách bổ sung các nguyên liệu có tỷ lệ C: N cao hoặc bằng cách sử dụng thức ăn có hàm lượng protein thấp để tăng tỷ lệ C: N. Sau khi thêm carbohydrate, ammonia sẽ được vi khuẩn hấp thụ nhanh chóng. Việc kiểm soát amoniac bởi vi khuẩn dị dưỡng thường ổn định và bền vững hơn tảo hay quá trình tritrate hóa.

Có nhiều nguồn nguyên liệu có thể được sử dụng để cung cấp carbohydrate vào hệ thống công nghệ biofloc, bao gồm bột ngũ cốc, mật đường, bã mía, cỏ khô băm nhỏ hoặc các nguồn khác. Để kiểm soát mức nồng độ ammonia thông qua con đường vi khuẩn dị dưỡng, carbohydrate bổ sung phải phù hợp với tỷ lệ cho ăn. Đối với thức ăn có hàm lượng protein 30-38% mỗi kg được bổ sung vào hệ thống, nên cung cấp 0,5-1kg carbohydrate.

Việc quản lý hệ thống nuôi theo công nghệ biofloc không đơn giản, nó đòi hỏi kỹ thuật nuôi tương đối phức tạp để đảm bảo hệ thống vận hành trơn tru và đạt hiệu quả năng suất cao.

Xem thêm: Mức tiêu thụ các vi sinh vật sinh học (bioflocs) liên quan đến sự phát triển của tôm như thế nào?

Công nghệ ương nuôi tôm siêu thâm canh trong hệ thống nước chảy (raceway)

Công nghệ raceway bắt nguồn từ các quốc gia Nam Mỹ (Mexico, Ecuador, Honduras, Hoa Kỳ, Guatemala …) và đã bùng nổ kể từ khi dịch EMS / AHPNS bùng phát ở các quốc gia này vào năm 2008. Công nghệ này được ứng dụng rộng rãi trong nuôi tôm, đặc biệt là nuôi tôm thẻ chân trắng phổ biến hơn.

Mục tiêu quan trọng của công nghệ nuôi raceway là do thời gian quay vòng ngắn, giúp tăng lợi nhuận trên một đơn vị diện tích; tận dụng được các đặc tính sinh học tuyệt vời của tôm thẻ chân trắng, đặc biệt là tăng trưởng, tính an toàn sinh học cao có thể giảm Rủi ro và tăng tỷ lệ thành công của vụ nuôi.

Theo kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Tzachi Samocha và cộng sự tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản AgriLife ở Corpus Christi, Texas, hệ thống nuôi raceway có thể sản xuất hơn 9kg tôm thẻ chân trắng trên một mét khối nước, với mật độ thả lên đến 530 con tôm trên một mét vuông. Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn trung bình (FCR) thấp, khoảng 1-1,2; tốc độ tăng trưởng hàng tuần của tôm nuôi đạt 1,3g / tuần.

Ngoài ra, hệ thống này còn giảm chi phí sản xuất tôm từ 5 USD/pound xuống còn khoảng 2 USD/pound. Thời gian nuôi thương phẩm chỉ mất 3 tháng và có thể sản xuất 4 vụ / ao / năm. Hệ thống nuôi khép kín đã ngăn chặn thành công sự bùng phát của virus và tỷ lệ chết hàng tuần được giữ ở mức dưới 0,5%.

Công nghệ chăn nuôi này đòi hỏi trình độ quản lý kỹ thuật cao, đặc biệt phải đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong hệ thống phải ở mức tối ưu. Vì không phải thay nước (mỗi ngày chỉ bổ sung khoảng 1% tổng lượng nước để bù lượng nước bốc hơi) nên trong môi trường hạn chế việc thay nước, hệ thống raceway chứa dày đặc các hạt biofloc chứa vi khuẩn và vi tảo. Đây cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với thức ăn cho tôm.

Đây là một hệ thống đòi hỏi nhiều vốn đầu tư ban đầu, trình độ quản lý và kỹ thuật cao để có thể đạt hiệu quả tốt nhất.

Công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính

nuôi tôm công nghệ cao

Hiện nay, mô hình nuôi tôm trong nhà kính đang lan rộng ở ĐBSCL do kiểm soát được vấn đề dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và ít rủi ro hơn các mô hình nuôi khác. Nuôi tôm trong nhà kính chi phí đầu tư ban đầu khá cao. Tổng chi phí đầu tư cho 1 ha khoảng 10 tỉ đồng, gồm xây nhà bao phủ các ao nuôi tôm, xây tường xung quanh ao nuôi, lót bạt dưới đáy ao, lắp đặt hệ thống quạt, oxy đáy, hệ thống cho tôm ăn tự động, …

Nhờ mô hình đầu tư khá hiện đại và khép kín nên có thể thả nuôi thâm canh với mật độ khá cao. Trung bình mật độ thả nuôi từ 200 – 290 con/m , tôm sau 100 – 105 ngày thả nuôi là có thể thu hoạch, tôm đạt kích cỡ từ 30 – 33 con/kg, năng suất đạt khoảng 60-90 tấn/ha. Tôm nuôi trong nhà kính có nhiều ưu điểm như dễ kiểm soát các yếu tố môi trường (nhiệt độ), tôm nuôi tăng trưởng khá nhanh, đặc biệt là tôm thương phẩm sau thu hoạch bóng và đẹp nên được các công ty chế biến tôm xuất khẩu thu mua với giá cao so với thị trường.

Do tôm thả nuôi với mật độ cao nên hệ thống dàn quạt và oxy đáy phải hoạt động liên tục 24/24 giờ. Theo đó, định kỳ 5 ngày phải cấy vi sinh một lần và hàng tuần phải kiểm tra sự tăng trưởng của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn, môi trường nước kịp thời.

Điều đặc biệt là nuôi tôm trong nhà kính không cần thay nước, nguồn nước có thể được tận dụng để thả tôm nuôi những vụ tiếp theo. Do đó, người dân sẽ chủ động được khâu xử lý nước thải trong môi trường nuôi tôm – một vấn đề bức thiết lâu nay mà không có giải pháp khắc phục. Ngoài ra, để quản lý tốt môi trường ao nuôi định kỳ 3 – 4 ngày phải siphon đáy ao một lần, làm sạch môi trường nuôi tạo ra sản phẩm nuôi sạch đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Tóm lại, hiện nay có rất nhiều quy trình công nghệ nuôi tôm công nghệ cao khác nhau; mỗi công nghệ có ưu điểm, nhược điểm và mức độ đầu tư khác nhau. Tuỳ theo điều kiện thực tế mà người nuôi có thể cân nhắc lựa chọn công nghệ nuôi phù hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

________________

Tóm lại, có nhiều quy trình công nghệ nuôi tôm công nghệ cao khác nhau, mỗi công nghệ đều có ưu, nhược điểm và mức đầu tư khác nhau. Bà con có thể cân nhắc lựa chọn kỹ thuật nuôi phù hợp theo điều kiện thực tế để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Để được tư vấn thêm cách xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, xin hãy liên hệ ngay với đội ngũ Biogency qua số Hotline: 0909 538 514

Tài liệu tham khảo:

5 mô hình nuôi tôm tiên tiến khả thi hiện nay – Tepbac

SCORE, N. A. A. S. International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences (IJCMAS). Int. J. Curr. Microbiol. App. Sci, 2019, 8: 6-10.

NGUYỄN THỊ BIÊN, Thùy; TRẦN THỊ NGUYỆT, Minh; ĐỖ VĂN, Thịnh. Ảnh hưởng của nguồn các bon đến động vật phù du và biofloc ứng dụng trong nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) bằng công nghệ Copefloc. 2020.

SANTHANAM, P., et al. Biofloc-Copefloc: A Novel Technology for Sustainable Shrimp Farming. In: Basic and Applied Zooplankton Biology. Springer, Singapore, 2019. p. 305-314.

SANTHANAM, P.; MANICKAM, N.; PERUMAL, P. Biofloc-copefloc: A Novel Technology towards Sustained Aquaculture. J. Indian Soc. Coastal Agric. Res, 2020, 38.2: 43-50.

LINGENFELTER, Brinson A. Standard operating procedure manual for the shallow water super-intensive stacked raceway system for shrimp production at the Texas AgriLife Mariculture Research Laboratory, Port Aransas, Texas. 2013. PhD Thesis.


Microbe-lift là dòng sản phẩm men vi sinh ứng dụng hiệu quả trong các ngành Môi trường – Thủy sản – Nông nghiệp.

Sản phẩm nằm trong giải pháp sinh học của thương hiệu BIOGENCY – Đi đầu về giải pháp xử lý Nitơ và Amonia, được nhập khẩu bởi công ty TNHH Đất Hợp.

CÔNG TY TNHH ĐẤT HỢP


  • Số 2, Đường số 4, Khu nhà ở Vạn Phúc 1, P. Hiệp Bình Phước, TP. Thủ Đức, TP. HCM

  • cskh@dathop.com.vn

  • (+84) 909 538 514

  • (+84) 83 6208 606

  • Mã số doanh nghiệp 0302919086 cấp ngày 29/04/2003 bởi Sở kế hoạch đầu tư TPHCM

Copyright © 2020 | All rights reserved | Microbelift.vn
Mọi hình thức sao chép nội dung trên website này mà chưa được sự đồng ý đều là trái phép.

0909538514