Ngành chế biến thủy sản nói chung và chế biến tôm đông lạnh nói riêng, khi thực hiện giảm phát thải hay chuyển đổi xanh, có thể góp phần cắt giảm lượng phát thải trên toàn bộ chuỗi sản xuất. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này vẫn đang đối mặt với không ít thách thức.
Những rào cản về chuyển đổi xanh trong chế biến tôm đông lạnh
Theo TS Đào Trọng Hiếu, chuyên gia thuỷ sản, cơ sở chế biến là giai đoạn đầu của quá trình nuôi trồng thuỷ sản, việc giảm phát thải ở giai đoạn chế biến sẽ giúp giảm thải cho toàn bộ chuỗi sản xuất thuỷ sản. Tuy nhiên, trên thực tế lượng phát thải nhà kính trên mỗi kg tôm lại đang ở ngưỡng rất lớn.
– Công suất chế biến thực tế chỉ đạt 40-60% công suất thiết kế:
Kết quả khảo sát tại 48 cơ sở chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu của khu vực ĐBSCL cho thấy, 100% doanh nghiệp tư nhân với công suất thiết kế từ vài trăm tấn đến 20.000 tấn sản phẩm/năm. Tuy nhiên, công suất sản xuất thực tế giai đoạn khảo sát 2020 – 2021 thì chỉ đạt 40 – 60% công suất thiết kế. Việc dư thừa công suất khiến chi phí cố định và mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng cao, làm giảm hiệu quả kinh tế lẫn môi trường.

Đồng thời, lượng tiêu thụ điện từ các cơ sở là rất lớn, trung bình mỗi cơ sở chế biến tôm đông lạnh tiêu thụ đến 4,11 triệu Kwh/năm, cá biệt có cơ sở lên tới 20 triệu Kwh/năm. Thống kê cho thấy, nhóm cơ sở có công suất trên 5.000 tấn/năm, lượng phát thải khá thấp, chỉ 0,93kg CO2e/kg tôm. Trong khi đó, với nhóm cơ sở quy mô nhỏ, dưới 1.000 tấn/năm, hệ số phát thải lên đến 2,89kg CO2e/kg tôm.
Điều này phản ánh rằng, hiệu quả sử dụng năng lượng và quy mô sản xuất có tác động rất lớn đến phát thải.
– Thách thức chi phí duy trì và tuân thủ chuyển đổi xanh:
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản đã triển khai các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu và giảm chất thải. 100% cơ sở khảo sát đã thay thế bóng đèn sợi đốt bằng đèn LED; phụ phẩm, chất thải rắn và bao bì được thu gom, bảo quản và bán lại cho đơn vị thu mua; phần lớn cơ sở có hệ thống xử lý nước thải riêng hoặc đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung tại khu công nghiệp.
Tuy nhiên, với các cơ sở quy mô nhỏ, đặc biệt là nhóm phục vụ thị trường nội địa, việc thu gom, xử lý và tái chế chất thải vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư và duy trì các chứng nhận, chứng chỉ xanh, cùng với chi phí chuyển đổi công nghệ, là gánh nặng không nhỏ.
Về môi chất lạnh, nhiều nhà máy đã từng bước chuyển đổi từ R22 sang NH₃. Theo thống kê chưa đầy đủ, khoảng 72% thiết bị lạnh công suất lớn đã được chuyển đổi, dù chi phí đầu tư rất cao do phải thay đổi toàn bộ hệ thống. Đối với các cơ sở nhỏ, tiến trình này vẫn diễn ra chậm.
Sự bấp bênh về nguồn nguyên liệu, biến động thị trường đầu ra – đầu vào, cùng chi phí tuân thủ chuyển đổi xanh cao, khiến nhiều cơ sở chế biến chưa thể khai thác tối đa công suất thiết kế, vô hình trung làm gia tăng lượng phát thải trên mỗi kg sản phẩm.

Giải pháp nào để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh?
Theo TS Đào Trọng Hiếu, để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh, đòi hỏi áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó cấp thiết và trọng tâm là giảm lượng điện tiêu thụ và tái sử dụng phế phụ phẩm tôm.
– Hoàn thiện quy trình sản xuất và quản lý sử dụng năng lượng:
Để nâng cao chuyển đổi xanh, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản nhỏ cần đầu tư, sử dụng hệ thống điện mặt trời để nâng cao hiệu quả, giảm hệ số phát thải, đẩy nhanh tiến trình thay thế môi chất lạnh trong cơ sở chế biến thủy sản, đặc biệt là cơ sở quy mô nhỏ.
Các nhà máy chế biến quản lý chặt chẽ việc sản xuất và sử dụng nước đá, sử dụng kho lạnh, hệ thống điều hòa nhiệt độ, thay thế bóng đèn sợi đốt sang bóng đèn LED, quản lý sử dụng năng lượng và quy trình vận hành thiết bị lạnh, hạn chế chạy không tải, non tải.
– Tận dụng phế phụ phẩm tôm:
Theo Cục trưởng Cục Thủy sản Trần Đình Luân, tại 34 địa phương có hoạt động chế biến tôm, chỉ trong vòng 2 năm đã phát sinh khoảng 500.000 tấn phế phụ phẩm, chủ yếu là đầu và vỏ tôm. Trong bối cảnh cả nước có khoảng 850 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hơn 3.500 cơ sở nhỏ, vừa phục vụ thị trường nội địa, việc tận dụng phụ phẩm để tạo giá trị gia tăng là hướng đi tất yếu, giúp giảm lãng phí tài nguyên và áp lực môi trường.
Công nghệ sinh học giúp tái sử dụng chất thải, nước thải chế biến tôm đông lạnh hiệu quả
Tái sử dụng chất thải và nước thải chế biến tôm đông lạnh là một trong những giải pháp quan trọng hướng tới chuyển đổi xanh ngành thủy sản. Trong đó, ứng dụng công nghệ sinh học được đánh giá cao nhờ hiệu quả xử lý ổn định, chi phí vận hành hợp lý và tính bền vững lâu dài.
Một trong những công nghệ phổ biến hiện nay là AAO (Anaerobic – Anoxic – Oxic), cho phép xử lý đồng thời các chỉ tiêu ô nhiễm quan trọng của nước thải chế biến tôm đông lạnh như BOD, Nitơ tổng và Phốt-pho.
- Giai đoạn kỵ khí (Anaerobic): Vi sinh vật phân hủy các hợp chất hữu cơ phức tạp trong điều kiện không có oxy, góp phần giảm tải ô nhiễm ban đầu và tạo điều kiện thuận lợi cho các giai đoạn sau.
- Giai đoạn thiếu khí (Anoxic): Quá trình khử Nitrat diễn ra, giúp loại bỏ Nitơ tổng khỏi nước thải.
- Giai đoạn hiếu khí (Oxic): Vi sinh hiếu khí tiếp tục phân hủy chất hữu cơ còn lại và hoàn thiện quá trình xử lý, đảm bảo nước thải đạt tiêu chuẩn xả thải.

Trong thực tế vận hành hệ thống AAO, việc kết hợp các chế phẩm sinh học chuyên dụng như Microbe-Lift IND và Microbe-Lift N1 đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả xử lý nước thải chế biến tôm đông lạnh.
Các chủng vi sinh đặc hiệu giúp gia tăng nhanh mật độ và hoạt tính vi sinh, thúc đẩy quá trình phân hủy chất hữu cơ, ổn định chu trình xử lý Nitơ – Phốt-pho, từ đó rút ngắn thời gian xử lý, hạn chế mùi hôi và giảm nguy cơ sốc tải khi lưu lượng, tải lượng nước thải biến động. Nhờ hệ vi sinh được duy trì ổn định, chất lượng nước thải đầu ra luôn đạt và vượt quy chuẩn, đồng thời giảm phát sinh bùn dư, góp phần tối ưu chi phí vận hành.
Nước thải sau xử lý có thể được tái sử dụng cho các mục đích không tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm như rửa sàn nhà xưởng, tưới cây xanh, làm mát thiết bị hoặc xả toilet. Việc tuần hoàn nước này không chỉ giúp giảm nhu cầu sử dụng nước sạch, mà còn cắt giảm chi phí cấp nước, chi phí xả thải và giảm phát thải gián tiếp phát sinh từ quá trình khai thác, xử lý nước đầu vào.

Để ngành chế biến tôm đông lạnh nói riêng và chế biến thuỷ sản nói chung tiến gần hơn tới mô hình kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh bền vững còn khá nhiều rào cản. Tuy vậy chuyển đổi xanh là tất yếu, giúp doanh nghiệp vừa đáp ứng yêu cầu môi trường, vừa tối ưu chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
>>>Xem thêm: Hướng dẫn nuôi cấy vi sinh bể hiếu khí cho HTXLNT đạt hiệu quả cao


